Tranh Đông Hồ – Nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam

Chuyên mục: Nghệ thuật

Tranh Đông Hồ – Nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam hấp dẫn, độc đáo ở màu sắc, bố cục, khuôn hình. Với những chất liệu hoàn toàn tự nhiên, tranh Đông Hồ có màu sắc gần gũi, ấm áp rất đặc biệt mà có lẽ chỉ riêng Việt Nam mới có.

Nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam

Cũng như tranh làng Sình, tranh Kim Hoàng, tranh Nam Hoàng, tranh Hàng Trống… tranh Đông Hồ ở Bắc Ninh là một dòng tranh dân gian đặc sắc, đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay người Việt. Tranh Đông Hồ thuộc dòng tranh in từ ván khắc gỗ, do người dân làng Đông Hồ sáng tạo, sản xuất và phát triển thành làng nghề. Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ truyền, cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác, phong tục, tập quán, sinh hoạt của người dân Việt. Chúng ta có thể tìm thấy những hình ảnh quen thuộc trong tranh Đông Hồ như: đám cưới chuột, những đàn lợn, đàn gà, những cô thiếu nữ hứng dừa hay cả cảnh đánh ghen của đôi vợ chồng trẻ…

Tranh Đông Hồ với giá trị nghệ thuật đậm chất dân gian đã đi vào sử sách, thơ ca, đi vào tâm hồn người Việt Nam. Thơ Tú Xương về tranh Đông Hồ ngày Tết có câu: Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột Loẹt lòe trên vách bức tranh gà Hay trong bài thơ “Bên kia sông Đuống”, nhà thơ Hoàng Cầm cũng miêu tả vẻ đẹp của tranh Đông Hồ với những câu thơ: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” Không chỉ có những đặc điểm riêng biệt về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn – hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang)… Đây là những gam màu cơ bản, không pha trộn và thường thì tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu để tương ứng với số bản khắc gỗ.

 tranh_dan_gian_dong_ho

tranh_dan_gian_dong_ho

Một số bản khắc gỗ tranh Đông Hồ và vỏ điệp dùng để quét lên giấy dó 

Để hoàn thành một bức tranh, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận và thực hiện nhiều giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quét điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ như thế, từng lớp, từng lớp dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh các hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân…

Ông Nguyễn Đăng Chế – một nghệ nhân nổi tiếng của dòng tranh dân gian Đông Hồ đã giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình … Tranh Đông Hồ có từ thời Lê, xuất xứ từ làng Đông Hồ, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc (cũ). Ngày xưa chợ tranh họp 5 phiên trong tháng duy nhất của năm – tháng chạp vào các ngày 6,11,16,21,26. Vào thế kỷ XVI tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết được có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết gồm có 5 loại là: Tranh thờ, Tranh lịch sử, Tranh chúc tụng, Tranh sinh hoạt và Truyện tranh.

Trước kia tranh Đông Hồ được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới. Thời kì cực thịnh của làng tranh là vào khoảng cuối thế kỉ 19 đến những năm 40 của thế kỉ 20. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh. Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp…

tranh_dan_gian_dong_ho

Đàn gà       

tranh_dan_gian_dong_ho

   Đàn lợn âm dương     

Sở dĩ tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và sự cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ người Việt cũng như du khách nước ngoài bởi những đề tài trên tranh phản ánh khá chân thực, sinh động và đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị cũng như nét văn hóa truyền thống của người Việt. Cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng tới chừng nào.

Nguy cơ bị mai một và thất truyền

Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có khoảng hơn 1000 làng nghề, trong đó có 300 làng nghề truyền thống, hàng năm mang lại doanh thu khoảng 600 triệu USD. Tuy nhiên, nguy cơ biến mất của các làng nghề truyền thống trước sức ép của kinh tế thị trường đang ngày càng hiện hữu.

Làng tranh Đông Hồ cũng không tránh khỏi sức ép đó. Có một điều đáng buồn là tranh không còn mang tính “thuần Việt” như thời xưa mà đang dần bị “thương mại hoá”. Một số họa sĩ cho rằng ở thời điểm hiện tại, tranh Đông Hồ thường không có màu sắc thắm như tranh cổ, nguyên nhân bởi vì người ta trộn màu trắng vào điệp quét giấy nhằm bớt lượng điệp khiến giấy mất độ óng ánh và trở nên “thường”, màu sắc sử dụng cũng chuyển sang loại màu công nghiệp, các bản khắc mới có bản không được tinh tế như bản cổ. Không những thế, một số bản khắc đã đục bỏ phần chữ Hán (hoặc chữ Nôm) bên cạnh phần hình của tranh khiến tranh ít nhiều bị “què cụt” về mặt ý nghĩa.

Ngày nay, đến với chợ tranh Đông Hồ, người ta chẳng còn được thấy cảnh tấp nập bán mua, cũng không còn cảnh người người, nhà nhà ưa chuộng tranh như ngày xưa nữa. Du khách đến làng tranh bây giờ cũng “dở khóc dở cười” khi vẫn thấy cảnh phơi giấy nhưng giấy đó lại là giấy để làm…hàng mã chứ không phải giấy dó in tranh.

tranh_dan_gian_dong_ho

tranh_dan_gian_dong_ho

tranh_dan_gian_dong_ho

Bức tranh “Đám cưới chuột”

Cho đến nay chỉ còn hai dòng họ vẫn giữ được nghề truyền thống là dòng họ của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam. Từ những năm 90, khi người dân làng tranh bán hết bản khắc gỗ để mưu sinh, hoặc để mất mát, thất lạc, có khi còn bị mang ra chẻ làm củi đun hoặc che chuồng gà, thì Nghệ nhân Đăng Chế đã “tỉnh táo” thu mua bằng hết. Cho đến nay, ông vẫn còn lưu giữ được gần 100 bản khắc cổ và phục chế được hàng trăm bản khắc khác.

Tuy nhiên, dù có sự tâm huyết của các nghệ nhân cùng nhiều dự án khôi phục lại làng nghề, triển khai du lịch làng nghề truyền thống nhưng làng tranh dân gian Đông Hồ vẫn chỉ đang tồn tại ở mức độ “phảng phất”, chưa thực sự được quan tâm đầu tư để phát triển.

Trong thời buổi kinh tế thị trường, có lẽ lợi nhuận bao giờ cũng phải đặt lên hàng đầu, tất cả vì cuộc sống mưu sinh. Kể cả người làng tranh vẫn làm tranh đi nữa cũng phải theo thị trường để vừa mất ít công sức, nguyên liệu, vừa có giá thành rẻ… Họa chăng Tranh Đông Hồ còn giữ được nguyên vẹn sắc thái tự nhiên chỉ có thể thấy ở Viện bảo tàng và các sưu tập tư nhân mà thôi!

tranh_dong_ho

Hứng dừa                                                                        Chăn trâu thổi sáo

tranh_dan_gian_dong_ho

tranh_dan_gian_dong_hotranh_dan_gian_dong_ho

Ước vọng hồi sinh

Tháng 7/2014, UBND tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt Đề án “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tranh dân gian Đông Hồ giai đoạn 2014 – 2020, định hướng đến 2030”. Việc phê duyệt Đề án này nhằm mục tiêu khẳng định, gìn giữ và phát huy giá trị nổi bật của tranh dân gian Đông Hồ. Đồng thời xác định hiện trạng và nguy cơ mai một của dòng tranh này, nâng cao nhận thức, hành động của chính quyền, nhân dân địa phương trong việc bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa của tranh dân gian Đông Hồ; Bên cạnh đó quảng bá, giới thiệu tranh dân gian Đông Hồ ra thế giới và tiến hành việc hoàn thiện hồ sơ đệ trình UNESCO đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Đề án này sẽ bắt đầu triển khai thực hiện trong năm 2014 với kinh phí gần 60 tỷ đồng, gồm: dự án phục hồi, phát triển tranh dân gian Đông Hồ 2,1 tỷ đồng; dự án xây dựng Trung tâm bảo tồn và phát huy giá trị tranh dân gian Đông Hồ 50 tỷ đồng; dự án xây dựng hồ sơ ứng cử Quốc gia tranh dân gian Đông Hồ trình UNESCO đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp 7,8 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu sẽ tiến hành nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị di sản tranh dân gian Đông Hồ, dự báo những tác động tiêu cực, từ đó có những biện pháp, hành động kịp thời, hiệu quả ngăn chặn tác động tiêu cực gây ảnh hưởng làm mai một dòng tranh này. Ngoài ra, Bắc Ninh cũng đang khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng đẩy mạnh các tour du lịch về Thuận Thành, tuyến chùa Dâu – chùa Bút Tháp – làng tranh Đông Hồ và đẩy mạnh hoạt động quảng bá tranh dân gian Đông Hồ tới trường học, thị trường quốc tế.

Làng tranh dân gian Đông Hồ đang dần “bừng sáng” trở lại, hứa hẹn sẽ trở thành một điểm tham quan du lịch văn hóa có sức hấp dẫn du khách cả trong và ngoài nước. Hy vọng trong tương lai gần, cùng với sự đầu tư, vào cuộc của các cơ quan chức năng và lòng nhiệt huyết, yêu nghề của các nghệ nhân, làng tranh Đông Hồ sẽ tìm lại được vị trí vốn có của mình và ngày càng phát triển, làm giàu thêm cho nền văn hoá đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s